"Trước tiên, ta sẽ giảng giải cho ngươi những kiến thức cơ bản về đàn tỳ bà" Và thế là kể từ hôm đó, cô gái bắt đầu giảng dạy cho Thiên Ma đánh đàn. Thời gian nhanh chóng trôi qua, chớp mắt, Thiên Ma đã học đàn được nửa năm. Trong nửa năm ấy, giữa hắn và cô gái cũng chẳng có nhiều kỷ niệm gọi là đáng nhớ. Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun đàn tỳ bà " Chuyên mục Thời gian 21 năm sau "Phía trước là bầu trời", Diệu Thảo thành giảng viên đàn tỳ bà Dù tạo dấu ấn ngay từ vai diễn đầu tay nhưng Diệu Thảo không theo nghiệp diễn xuất mà tập trung giảng dạy đàn tỳ bà. Cô vừa trình diễn ấn tượng tại chương trình "Hát lên Việt Nam". Người giữ cây đàn tỳ bà cổ và những ngón đàn độc nhất thiên hạ Đồng tì bà có 2 hoặc 3 phím đàn và 4 dây đàn chỉnh bằng 4 trục tròn dài. Các dây này chạy căng trên một ngựa đàn gỗ nhỏ tới một chốt dây nhỏ ở cuối thân đàn. Người ta thường sử dụng Đồng tì bà để đệm hát và khiêu vũ bằng cách đánh chập ( strumming). Hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni,Ưu bà tắc, Ưu bà di vẫn có thể sống lâu trăm tuổi hoặc hơn trăm tuổi. Hàng ngoại đạo có được ngũ thông, hạng luyện đơn, chế thuốc tu tiên, họ vẫn có thể kéo dài mạng sống ngàn năm, hoặc 92 Hoạt động của cửa hàng nhạc cụ - lớp nhạc nụ hồng. Mua nhạc cụ mới - cũ. Dịch Vụ Sửa Chữa Nhạc Cụ. Giờ làm việc - Lịch dạy. Dạy đàn organ - đàn guitar - đàn piano - dạy đánh trống - đàn violin. Rao vặt. Làm sao để cải thiện khả năng học đàn guitar. Nốt nhạc OsLYGdu. Để gìn giữ và phát huy nét văn hóa, bản sắc dân tộc cũng như tinh hoa âm nhạc cổ truyền Trung Quốc, Nốt Trầm tổ chức các lớp nhạc cụ dân tộc và tuyển sinh rộng rãi với mọi đối tượng đăng ký. Cụ thể là các lớp Đàn Tranh, Guizheng đàn tranh Trung Quốc, Tỳ bà, Sáo trúc, Đàn Nhị, Đàn Kìm được đảm nhiệm bởi các giáo viên đến từ Nhạc Viện & những nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp. Địa chỉ dạy giảng dạy tại quận Thủ Đức, Bình Thạnh các khu vực lân cận cũng có thể dễ dàng đến đây như quận Q1, Q2, Q3, Q5, Q6, Q7, Q11, Phú Nhuận, Tân Bình, Gò Vấp, Dĩ An – Bình Dương trên các tuyến xe bus đến thẳng trung tâm. Địa chỉ học nhạc cụ cổ truyền ở Học đàn Tranh, Guizheng, Sáo, Nhị, Tỳ bà, Kìm từ căn bản đến nâng cao Các lớp dạy học đàn tranh căn bản cho người mới bắt đầu nhận học viên mỗi ngày vào khung giờ làm việc Sáng [8h – 11h]; chiều tối [17h – 21h] chủ nhật và ngày lễ nghỉ. Ngoài ra còn có các lớp gia sư, các lớp ngoài khung giờ làm việc cho người bận rộn cũng có thể dễ dàng theo học. Tuyển sinh với mọi lứa tuổi và các lớp luyện thi đại học, Nhạc Viện Lớp phát triển năng khiếu hát dân ca cho các dối tượng học sinh, sinh viên và tạo điều kiện biểu diễn tại các chương trình tuyển chọn giọng hát, hát cùng đoàn diễn chuyên nghiệp liên kết bởi trung tâm Nốt Trầm. Quý phụ huynh và các bạn học viên quan tâm đến các khóa học nhạc cụ cổ truyển [Tranh, Guizheng, Sáo, Nhị, Tỳ bà, Kìm] vui lòng liên hệ trước để nhận thông tin về lịch học và sắp lớp phù hợp Thông tin liên hệ 0899473337 [Click Zalo] Là một nhà chế tác nhạc cụ truyền thống chuyên nghiệp, bên cạnh việc nỗ lực để chế tác nên những cây đàn chất lượng đẳng cấp, TẠ THÂM luôn mong muốn chia sẻ cùng các bạn những kiến thức bổ ích về các loại nhạc cụ dân tộc giúp các bạn yêu mến và tự hào với những giá trị của nhạc cụ truyền thống đối với đời sống tinh thần người Việt Nam. Trong bài viết này, TẠ THÂM sẽ chia sẻ về cấu tạo và kỹ thuật diễn tấu đàn Tỳ Bà - một loại nhạc khí dây gảy rất phổ biến tại Việt Nam với khả năng độc tấu phong phú. Hình thức cấu tạo Thùng đàn hình quả lê bổ đôi, lưng đàn cong, phồng lên ở giữa làm bằng gỗ cứng. Mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc, trên mặt đàn có bộ phận để mắc dây đàn. Thân đàn Đàn Tỳ Bà không có dọc cần đàn riêng biệt mà dọc đàn gắn liền với thân đàn, xưa kia vẫn có phím nhưng là phím giả. Ngày nay đàn Tỳ Bà có gắn 3 phím trên cần đàn và 11 phím gắn trên mặt đàn, ngoài ra còn thêm 2 phím cho 2 dây cao. Các phím đều thấp và gắn liền kề nhau dựa theo thang âm bảy cung chia đều. Dây đàn Có 4 dây bằng tơ se nay thay bằng dây nylon. Bộ phận lên dây Có 4 trục gỗ để lên dây, ở phía cuối thân đàn có ngựa đàn để mắc dây bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống. Phím gảy đàn nghệ nhân gảy đàn bằng miếng gảy nhựa hay đồi mồi với các ngón tay, ngón hất, ngón vê, đặc biệt đàn Tỳ Bà sử dụng các ngón tay vẩy đuôi trên dây đàn gọi là ngón phi. Kỹ thuật diễn tấu Kỹ thuật diễn tấu của đàn Tỳ Bà có nhiều ngón giống như đàn Nguyệt. Tư thế đàn Ngồi thấp xếp chân trên chiếu. Ngồi thẳng trên ghế, đàn được đặt gần như thẳng đứng. Kỹ thuật tay phải Tay phải gảy đàn, cách sử dụng móng tay để đàn có nhiều kỹ thuật phức tạp nhưng sinh động. Kỹ thuật tay trái Kỹ thuật tay trái của đàn Tỳ Bà có các ngón nhấn, ngón vuốt, ngón mổ, bấm hợp âm, đặc biệt đàn Tỳ Bà có lối đánh song thinh song thanh 2 đồng âm ở hai dây khác nhau. Ngón phi Ngón phi của đàn Tỳ Bà có thể đánh trên cả 4 dây hoặc phi trên từng cặp dây dây1+2; dây 2+3 và 3+4 hoặc phi trên từng dây 1 hoặc 4 dễ dàng hơn. Ngón nhấn Các phím đàn gắn cách nhau không xa lắm, mỗi phím lại không cao như đàn Nguyệt nên các loại ngón nhấn nhấn, nhấn luyến lên, nhấn láy… đều có những hạn chế, thường chỉ nhấn từ nửa cung đến một cung liền bậc, hiệu quả ngón nhấn tốt nhất là khoảng âm trầm và một phần khoảng âm giữa. Ngón vuốt Được sử dụng nhiều ở đàn Tỳ Bà, trong các tác phẩm cổ truyền ngón vuốt được sử dụng nhiều như ngón nhấn của đàn Nguyệt. Ký hiệu ngón vuốt không vê dùng gạch chéo nối giữa hai nốt. Vuốt có vê dùng gạch chéo nối giữa hai nốt đồng thời gạch hai gạch chéo ở nốt nhạc có đuôi, nếu nốt nhạc không có đuôi thì gạch hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt. Vuốt xuống Là cách vuốt dây của tay trái trong khi tay phải không gảy, không vê, không phi, âm thanh các ngón vuốt xuống phát ra nhỏ, yếu nhưng không thể dùng trong hòa tấu. Do vậy các âm vuốt thường xen kẽ với các âm gảy, vê hay phi để có thể thừa hưởng dư âm của các âm ấy. Vuốt nhiều dây Có thể vuốt hai, ba dây một lúc trong khi tay phải gảy, vê hay phi, kỹ thuật nầy ít sử dụng trong diễn tấu nhạc cổ truyền. Ngón chụp Tay trái ngón 1 bấm vào một cung phím, tay phải gảy dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác thường là liền bậc cao hoặc thấp âm thanh từ cung phím nầy vang lên mà không phải gảy đàn. Âm luyến nghe được do một phần của dây đàn còn chấn động, một phần do ngón tay mổ vào cung phím tạo thêm chấn động. Âm luyến nghe yếu nhưng mềm mại, ở những thế bấm cao âm luyến nghe kém vang nên ít được sử dụng. Ký hiệu ngón chụp dùng dấu luyến giữa các nốt nhạc. Ngón mổ Gần giống như ngón luyến, nhưng tay phải không gảy dây mà ngón tay trái cứ mổ vào các cung phím để phát ra âm thanh, âm thanh ngón mổ nghe nhỏ, yếu và có màu âm riêng biệt. Không nên sử dụng ngón mổ trong bản nhạc có tốc độ nhanh và trong hòa tấu vì hiệu quả ngón mổ nghe rất nhỏ. Ký hiệu ngón mổ ghi như dấu hỏi đặt trên nốt nhạc. Ngón vỗ Một ngón tay đang bấm trong khi ngón khác vỗ lên dây đàn. Chồng âm, hợp âm Đàn Tỳ Bà có thể cách đánh chồng âm dễ dàng và hiệu quả nhất là sử dụng bằng miếng gảy, khi đánh chồng âm, hợp âm có thể đánh bằng móng tay hoặc phím gảy trên 4 dây, hai hoặc ba dây không khó khăn và giữ tính chất đệm trong hòa tấu. iểm độc đáo nhất của đàn Tỳ Bà là đánh hợp âm rãi, kỹ thuật đánh hợp âm rãi của đàn Tỳ Bà có hiệu quả đặc biệt và độc đáo như tiếng Á của đàn Tranh. Đàn Tỳ Bà chế tác bởi Tạ Thâm luôn cho âm thanh hoàn hảo, được các nghệ sĩ nổi tiếng yêu mến và lựa chọn để biểu diễn độc tấu và hòa tấu trong các dàn nhạc dân tộc đương đại Việt Nam. Tạ Thâm hy vọng với những chia sẻ trên sẽ giúp các bạn hiểu hơn về cây đàn Tỳ Bà – một nhạc khí dây gảy độc đáo với màu âm trong sáng, trữ tình. Đàn Tỳ bà là loại nhạc cụ thuộc bộ dây gẩy của người phương Đông. Với chất liệu từ gỗ ngô đồng để mộc, phía cuối thân đàn ngay mặt có 1 bộ phận mắc dây là ngựa đàn. Cần khóa mặt sau và đường viền quanh thùng đàn làm từ gỗ hồng đào có đính cần xà cừ. Đầu đàn cong hình con dơi và được chạm khác khá tinh xảo, có 4 trục để lên dây phần đầu đàn. Ngựa trên và ngựa dưới được làm từ xương bò. Hình dạng của đàn tỳ bà giống như quả lê bổ đôi hoặc liên tưởng giống hình giọt nước Tại nước ta, đàn tỳ bà có mặt trong các dàn nhạc như nhã nhạc cung đình, lễ nhạc phật giáo, lễ nhạc cao đài, phường bát âm, dàn nhạc dân tộc,.. Đàn tỳ bà có xuất xứ từ nước ngoài nhưng qua thời gian, nó đã được bản địa hóa và trơ thành cây đàn của người Việt. Đàn tỳ bà thể hiện được sâu sắc đạm đà bản sắc dân tộc Việt trong cái hồn của khí nhạc. Màu âm đàn tỳ bà phát ra khá trong sáng, vui tươi, nó thể hiện được tính chất tươi sáng và trữ tình. Màu âm khá giống đàn nguyệt nhưng lại hơi đanh và khô hơn. I. Tổ tiên tôi gốc người Hoa Cùng chung một số phận với Chị đàn Tranh, mà Chị càng ngày càng được muôn người ưa chuộng, bao nhiêu thiếu nữ xinh đẹp khắp ba miền Bắc Trung Nam nâng niu, chăm sóc, ấp ủ trong tay, để trên đùi, còn tôi chỉ được 1 số ít nhạc sĩ miền Trung chiếu cố, toàn là các nhạc sư lớn tuổi của dàn Nhã nhạc cung đình ngày xưa còn sống, hay những thầy dạy đàn Tỳ bà, những cụ nghiêm trang có mặt trong dàn ngũ tuyệt của ca Huế. Còn tại miền Bắc, miền Nam hiện tại số người biết dùng tôi theo phong bí quyết truyền thống Việt Nam, chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Tôi nói chung số phận, vì Chị đàn Tranh cũng như tôi lần đầu tiên được nêu danh trong sách sử, khi ông Lê Tắc ghi trong quyển An Nam chí lược tên dàn tiểu nhạc sử dụng ngoài cung đình nhà Trần trong ấy có Chị đàn Tranh, và tôi cạnh đàn cầm 7 dây và cây "song huyền" đàn hai dây mà không biết rõ là đàn Cò, đàn Nhị hay đàn Nguyệt, đàn Kìm. Cùng chung số phận vì chúng tôi không được như anh đàn Đáy hay chị đàn Bầu, do người Việt chế tạo, truyền thuyết ghi lại xuất xứ của mình, sanh đẻ, lớn lên tại nước Việt. Còn chị đàn Tranh và tôi trong gia phả chép rằng tổ tông chúng tôi từ Trung Quốc sang nước Việt, mang thể trước khi ông Lê Tắc nhắc tới chúng tôi, vì lúc những thợ chạm khắc nhạc công trên tảng đá vuông dùng làm chân cột chùa Vạn Phúc, tại Phật Tích, tỉnh Bắc Ninh, chạm tôi giữa hai nhạc công dùng ống sênh, và ống tiêu thổi dọc. Chị đàn Tranh với vóc dáng mà không thấy có các con nhạn căng dây, đứng giữa hai nhạc công thổi ống sênh và ống sáo ngang. Lúc ấy là dưới triều đại Nhà Lý. Các nhà khảo cổ cho rằng Chùa Phật Tích được xây vào thế kỷ 10. Như vậy là Chị đàn Tranh và tôi đã được du nhập vào nước Việt, được dân Việt cho nhập tịch và sử dụng, rồi truyền lại cho con cháu, từ đời nầy sang đời khác. Chúng tôi đã chịu thử thách của thời gian, hơn ngàn năm, đã kể được chân thực tiếng nhạc của dân Việt, chúng tôi mới sống sót đến ngày nay. Không phải như anh đàn "Cầm", có mặt trong dàn tiểu nhạc do Lê Tắc ghi lại, sau nổi tiếng một thời dưới nhà Trần, nhờ mang sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép lại sự kiện Nhạc sư Trần Cụ, am hiểu đàn Cầm và đã dạy cho Thái tử biết đàn Cầm và đá cầu. Nhưng rồi có lẽ không nói được rõ ràng tiếng kể âm nhạc Việt, đàn Cầm bị chìm trong quên lãng. Ngày nay, không còn thấy ai biết đàn Cầm nữa. II. Cuộc đời long đong lao đao Suốt đời nhà Trần, không nghe ai đề cập tới hai chị em tôi. Chúng tôi yên phận trong dàn Tiểu nhạc dùng trong dân gian. Qua đời nhà Lê, khi Lương Đăng qui định nhạc cung đình theo loại của Nhạc nhà Minh, tôi còn có mặt trong dàn Đường Hạ chi nhạc. Hỏi thăm chị đàn Tranh, thì nghe kể Chị không còn ở trong dàn nhạc nào cả. Tôi rất buồn. Nhưng qui định của Lương Đăng không được ai tán thành cả. Cụ Nguyễn Trãi đã dâng biểu để tâu có Vua vì sao Người đã từ nhiệm không ở trong Ban lo việc qui định Nhạc Triều Đình, nêu các loại sai của Lương Đăng. Những đại thần thông thạo âm nhạc như Lương Thế Vinh, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, đều không tán thành những qui chế do Lương Đăng bày ra. Tôi ở trong dàn Đường Hạ chi nhạc mà có được ra mắt triều thần đâu. Nhưng đến đời Hồng Đức 1470-1497, ba vị Đại thần nhắc trên chế ra hai đội Đồng Văn và Nhã Nhạc để đàn và hát trong cung đình. Tôi được biết Chị đàn Tranh cũng như tôi được tuyển vào trong hai đội ấy. Nhưng những Vị Đại thần không muốn giữ tên "tranh" hay "tỳ bà" là tên Trung quốc, cần đặt cho tôi tên "tứ huyền cầm" đàn 4 dây còn Chị đàn Tranh lúc ấy có 15 dây mang tên là "thập ngũ huyền cầm". Sau đó, mang sự đổi thay cực kỳ lớn từ đời Quang Hưng 1578 Hai đội Đồng Văn, Nhã nhạc chỉ còn được dùng trong các lễ lớn như Tế Giao, Tế Miếu, Đại triều. Trong những dịp khác, lần lần Đồng Văn, Nhã Nhạc bị đội Giáo phường trong dân gian thay thế. Lúc nầy, tôi bị xem nhẹ và chị đàn Tranh may mắn hơn tôi được sung vào Đội Giáo phường, góp mặt mang đàn Đáy, đàn Trường cùng làm bằng cây tre dài 3, 4 thước ta, do bà lão nghệ nhân gõ để giữ nhịp, sở hữu trống yêu cổ, với mẫu địch quản mà tên gọi thường nhật là Quyển Thúy. Có đào nương vừa ca vừa gõ phách mang cả sênh tiền. Khi đờn trong cung điện gọi là đi “hát cửa quyền" thì đội Giáo phường với cực kỳ rộng rãi nhạc công đờn "cầm", nghĩa là chiếc đàn dây, trong ấy Chị đàn Tranh 15 dây được gọi trở lại bằng tên tộc của mình là đàn Tranh. Và còn rộng rãi trống lớn trống nhỏ, ống địch, hải loa Nhưng tới khi cuối đời nhà Lê, chẳng biết ai đã làm lại dàn nhạc trong cung đình, cơ mà với một lần đổi thay lớn Chị đàn Tranh không còn có mặt trong dàn nhạc triều đình. Mà người ta lại tuyển tôi vào để góp mặt có đàn Nguyệt lúc ấy tôi nghe những nhạc công gọi là "cái đàn song vận", đàn Tam, đàn Nhị, có hai loại sáo, 1 trống bản, 1 tam âm la và một sênh tiền. Chúng tôi được gởi sang Trung Quốc để sung vào mẫu Cửu tấu của Nhà Thanh. Chúng tôi có gặp mấy nhà sử học của Trung Quốc, tới hỏi thăm chúng tôi về tên các nhạc khí, xem xiêm y chúng tôi và ghi chép rõ ràng. Họ nói họ vâng lịnh triều đình ghi lại nhiều khía cạnh về 9 dòng nhạc nước ngoài có mặt tại triều đình nhà Thanh, họ chép vào quyển Khâm định Đại Thanh Hội điển sự lệ, mà trong nước mình có Giáo sư Trần Văn Khê đọc được vả ghi lại Quyển số 538, tờ 3b. Đến lúc Vua Quang Trung thắng trận Đống Đa xong, gởi phái bộ hữu hảo sang chầu Vua Càn Long, Vua nhà Thanh phong cho Vua Quang Trung tước An Nam quốc vương, người Trung Quốc gọi dàn nhạc chúng tôi là "An Nam quốc Nhạc". Tuy sống xa đất nước, chúng tôi cũng nghe ngóng tin tức nơi nước nhà. Khi biết Chúa Nguyễn Ánh, thống nhứt bình định đất nước lấy tên nước là Việt Nam sau khi Ngài lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, từ năm 1802, chúng tôi hiểu tại sao người Trung Quốc đổi tên chúng tôi lại là "Việt Nam quốc nhạc." Tôi mang dịp về nước, trong khi nhà Nguyễn chỉnh đốn nhạc cung đình. Lập dàn Đại Nhạc gồm Kèn trống là chánh. Và dàn Nhã nhạc cũng gọi là Tiểu nhạc hay Ti trúc tế nhạc, vì dàn nhạc gồm các nhạc khí mắc dây tơ và cây sáo ngang làm bằng trúc. Tôi vẫn còn được có mặt trong dàn nhạc cung đình còn Chị đàn Tranh lại được trọng dụng trong dân gian và trở thành nhạc khí quan yếu của nhạc thính phòng. Có lúc song tấu đàn Tranh và đàn Nguyệt, tam tấu đàn Tranh, đàn Nguyệt đàn Nhị. Chị đàn Tranh dễ nhìn vô cùng. Chị đề nghị chọn tôi và cây đàn Tam để gia nhập sở hữu tam tấu của Chị. Chúng tôi thành ban "ngũ tuyệt" của ca nhạc thính phòng Huế. Đàn tranh thời xưa Chưa bao giờ tôi sung sướng bằng lúc nầy. Trong triều đình những ông hoàng, bà chúa khômg ngại ấp ôm tôi vào lòng. Tôi vừa có mặt trong dân gian, vừa được tham dự dàn Nhã nhạc trong Đại nội. Nhưng Chị đàn Tranh được nhiều người ưa chuộng hơn tôi. Các thiếu nữ, con nhà quan anh thế phiệt đua nhau học đàn Tranh. Mừng cho Chị và cũng lo cho mình. Tại Huế tôi được rộng rãi nhạc sư, nhạc sĩ truyền dạy cho những nhạc sĩ trẻ. Các hoàng thân Bửu Lộc, Vĩnh Trân, Vĩnh Phan, đều nổi tiếng danh cầm và biết đàn đa dạng cây kể cả đàn Tỳ bà, cũng như nhạc sư nổi tiếng Cụ Lữ Hữu Thi, Cụ Nguyễn Kế. Tôi được Ông Cả Soạn chăm sóc, truyền nghề cho nhiều nhạc công trẻ tuổi. Ông Cả Soạn đặt tên Binh, Thơ, Đồ, Trận cho 4 dây Đài, Thứ đài, Trung, Tiếu. Tôi với theo Cụ Trần Quang Thọ, từ Trung di cư vào Nam, sanh con là Trần Quang Diệm, nức tiếng là Ông Năm Diệm, cũng chuyên đàn Tỳ bà. Ông Năm đặt tên 4 dây của tôi là Tòng, Lan, Mai, Trúc, đúng theo giọng Hò Xang, Xê, Líu. Hậu duệ của ông Năm là Trần Văn Khê, còn giữ kỹ thuật đàn của Ông, qua các buổi dạy truyền ngón của Bà Ba Viện, con gái của Ông Năm. Một hôm Trần Văn Khê đàn Tỳ bà và kể chuyện 4 tên Tòng Lan Mai Trúc cho Mộng Trung nghe. Cô em họ và đầu ông cố vó Trần Văn Khê, xúc động đã viết ra mấy vần thơ Bốn dây Tỳ bà Tùng trong giá buốt vẫn xanh tình Lan dãi phong trần, áo vẫn trinh Mai đón ngành xuân, lòng ngạt ngào trắng Trúc noi quân tử chẳng cầu vinh. Tình xanh, tròng trắng áo trinh, Gấm hoa chẳng thiết, danh lợi chẳng màng Tơ mòn thương ấp phím loan, Đầy vơi tâm sự gởi sang lòng đàn. Ngày nay, trong Nhạc viện Hà Nội, và tại Huế, còn mang các lớp dạy đàn Tỳ bà. Nhưng dạy theo phong bí quyết đàn mới của Trung Quốc ngày nay. Nhạc khí cũng thay đổi. Những mảnh "tượng" bằng ngà trên đàn xưa để trang trí, nay biến thành phím. Tiếng đàn phi, hưởng, chầy của đàn Tỳ bà xưa, nay ít người còn sử dụng mà thay vào ấy mang những kỹ thuật trì tục thay đổi, đánh hai dây ba dây 1 lượt, có hợp âm, có chạy chữ. kỹ thuật rất cao. Mà kỹ thuật còn sử dụng để "biểu dương kỹ thuật”. Tôi còn chờ đợi những nhạc sĩ trẻ đem khoa học phụng sự nghệ thuật. Tôi rất vui mừng khi biết rằng Unesco trong năm 2003 đã ghi Nhã nhạc tức Nhạc cung đình Huế vào danh sách các "Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại". Và tôi rất mong rằng người Việt hữu trách ngày nay, biết giữ gìn loại hay chiếc đẹp của thời xưa và "phát huy" không với tức thì đổi mới bằng bí quyết chạy theo loại hào nhoáng bên bên cạnh của nhạc phương Tây mà quên dòng tế nhị thầm kín bên trong của nhạc cổ Việt Nam. Tôi còn có mặt trong dàn Nhã nhạc và chẳng biết trong tương lai, những giới trẻ sẽ cho tôi đề cập tiếng nhạc gì? Tại Nhạc viện Hà Nội có nữ nghệ sĩ Mai Phương sang Trung Quốc học đàn Tỳ bà trở về nước, được Nhạc Viện Hà Nội công nhận Giảng viên Trưởng khoa đàn Tỳ bà. Nhưng nghệ sĩ Mai Phương biết kỹ thuật đàn Tỳ bà theo phong cách Trung Quốc vô cùng rành, phải trong lúc truyền nghề dạy cho học sinh thì từ tư thế ngồi đàn cho đến kỹ thuật hai bàn tay khảy và nhấn đều giống phương pháp đàn của Trung Quốc. Cô cũng mang ý tìm hiểu truyền thống cây đàn Tỳ bà theo phong cách Việt Nam, nhưng mang lẽ chưa gặp được Thầy thuyết phục cô. Dầu sao, cô cũng đã tạo được một thế hệ trẻ biết đàn Tỳ bà và sau này vươn lên là những Giảng viên về Khoa Tỳ bà cho những Nhạc Viện TP. HCM và Huế. Trong số học viên của Nhạc sĩ Mai Phương, có Phạm Thị Huệ là người với tiếng đàn hay nhất. Nhạc sĩ Mai Phương đã dạy Phạm Thị Huệ từ lúc còn nhỏ mới vào Nhạc viện và vì Huệ mồ côi mẹ, cô nhận bé Huệ làm con, đặt tên Phạm Thị Huệ thành Mai Huệ. Sau khi ra trường Mai Huệ đỗ cao được giới thiệu khiến Giảng viên đàn Tỳ bà cho Nhạc viện Hà Nội. Tôi rất vui khi biết Giảng viên Mai Huệ mang ý tậu học nhạc Việt cổ truyền theo phong cách xưa nhờ gặp được các người Thầy như Bùi Trọng Hiền, Nghệ nhân Kim Sinh. Tôi bắt đầu được nhắc đến trong nền âm nhạc Việt Nam theo phong cách Huế bài “Lưu thủy”, “Kim tiền” và tiếng nói của đàn Tỳ bà Miền Nam bài “Dạ cổ”, “Lý con sáo”. Tôi rất vui vì nhờ mang nghệ sĩ Mai Phương và Nhạc viện Hà Nội mà trong mấy năm sau này tôi được nằm trong vòng tay của các nữ nhạc sĩ trẻ, đẹp và có tài. Đến lúc Mai Huệ biên soạn Luận văn Thạc sĩ mà tôi là đề tài chính, tôi theo dõi công việc của cô và thấy rằng lúc so sánh tôi và những nhạc khí cùng mẫu thì tại Việt Nam tôi có mặt sau những cây đàn Pipa Trung Quốc và Triều Tiên; Piwa Nhựt Bổn; nhắc cả những đàn khác như Barbat Ba Tư... Tôi rất vui vi lần đầu tiên - một nhạc sĩ trẻ Việt Nam nghiên cứu về tôi một cách sâu sắc, toàn diện. Nhận xét của cô giống như bài Giáo sư Trần Văn Khê đã viết về tôi gần 10 năm trước và có những điều tôi đã biết được khi tôi đi Trung Quốc xuất xứ của tôi. Các bạn ơi! Hôm nay tôi có đôi điều tâm sự, nói lại những lúc tôi vừa "nhập tịch" âm nhạc Việt Nam. Nhưng tôi đã mang lần đến Trung Quốc, và đã đi ngược chiếc lịch sử để mua khởi thủy xa xưa của tôi. Chuyến đi tìm cội nguồn đấy cực kỳ thú vị, dẫn tôi đi viếng các Động Đôn Hoàng Trung Quốc và đi dài theo "Con đường tơ lụa". Và tôi đã kinh ngạc vì người ta tưởng tôi gốc ở Trung Hoa. Nhưng bạn có biết cha ông tôi sanh ra tại nước nào chăng ? Lần sau, tôi sẽ thuật lại cho các bạn nghe chuyến đi tìm cỗi nguồn của tôi.

dạy đàn tỳ bà