Vén màn lý do nhiều vợ, đông con của Vua Minh Mạng. Trong lịch sử Việt Nam, vua chúa có đông con, nhiều vợ nhất chính là vua Minh Mạng. Ông có 43 bà vợ sinh 142 người con gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Hậu thế lý giải "khả năng sung mãn" của vua nhờ phương thuốc “Minh Subscribe cho kênh youtube của mình để xem nhiều video hay hơn nữa nhéhttps://www.youtube.com/channel/UCLlOH8tCBB0mLTMrRtWYkiA?sub_confirmation=1 Đoạn 7 năm sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng đã sai quan đi tìm nơi đất kết phát để làm nơi an táng cho mình sau này.Theo sách “Đại Nam thực lục”, năm 1826, vua Minh Mạng dụ cho văn võ đình thần đi tìm hai ngôi đất là “Vạn niên đại cát địa” và “Vạn niên cát địa” để dùng làm nơi an táng cho mẹ vua và vua. Bí ẩn chuyện phòng the của vua Minh Mạng Tài liệu tổng hợp ngày nay cho rằng “nhất dạ lục giao” là toa thuốc của vua Minh Mạng. Vua Minh Mạng là ai? Vua Minh Mạng (sinh năm Tân Hợi 1791, mất năm Trong lịch sử, quần thể di tích Ngũ Hành Sơn thường được các vua chúa đến thăm, riêng vua Minh Mạng không dưới 3 lần đến nơi đây và có nhiều đóng góp xây dựng Ngũ Hành Sơn. Tương truyền, có một người em gái vua Minh Mạng đã rời chốn hoàng cung đến ẩn tu tại một ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn. Vậy, nàng là ai breitling replica the wrist. Men wear watches what kind, starting from the basic color and size, have their own right watches, you can follow the watch's color, shape, value, occasions to carefully match their own clothing. cP4a0. Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp. Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose. A. ĐẶT VẤN ĐỀ Muốn xây một quốc gia cường thịnh thì người đứng đầu quốc gia phải là người có tài, thông minh biết kết hợp nền văn minh thế giới, học hỏi các nước bè bạn, kế thừa những thành tựu mà tổ tiên đã để lại áp dụng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của đất nước. Trong lịch sử phong kiến dân tộc ta, có hai cuộc cải cách lớn được lưu danh trong sử sách, đó là cuộc cải cách thành công thống nhất của vua Lê Thánh Tông 1460 – 1497 và cuộc cải cách cũng đầy sáng tạo dưới triều vua Minh Mạng 1820 – 1840. Trong phạm vi bài viết này, nhóm chúng tôi xin đi vào tìm hiểu “những cải cách về Lục bộ của vua Minh Mạng, với tinh thần tìm hiểu một cách rõ nét hơn tiền thân của các Bộ ngành trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay và tìm hiểu thêm về vị vua có sự quyết đoán, sáng tạo nổi tiếng của nhất của Triều đại nhà Nguyễn. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Lục bộ hay sáu bộ là thuật ngữ chỉ sáu cơ quan chức năng cao cấp trong chế độ quân chủ gồm có Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lễ. Đứng đầu các bộ là Thượng Thư, giúp việc cho Thượng Thư có những chức quan khác nhau tuỳ theo từng triều đại và dưới cấp bộ là chức ty trực thuộc. Về cơ bản, các Bộ đều là các cơ quan thực thi quyền hành pháp do nhà vua giao trong từng lĩnh vực cụ thể, đồng thời có chức năng tư vấn cho nhà vua trong lĩnh vực mà bộ quản lý. I. Cải cách trong thành phần quan lại trong Lục bộ Năm 1804 khi mới thiết lập Lục bộ, vua Gia Long vẫn theo chế độ phẩm trật danh chức các quan chế thời Lê, do quan đại thần đứng đầu các bộ. Gồm các chức quan sau Thượng Thư, Tham Tri, Thiên Sự, Cai Hợp, Thủ Hợp… Năm 1821, Minh Mạng cho đặt thêm ở các bộ các chức Lang Trung Chủ sự và Tư vụ. Năm 1822, nhà vua bãi bỏ các chức quan Cai Hợp và Thủ Hợp. Những nhân viên trước giữ chức này, nay cho nhập vào ngạch thư lại mới đặt. Năm 1827, ông bãi bỏ các chức Câu Kê và đặt thêm Viên Ngoại Lang. Như vậy, kể từ năm 1827 trở đi, thành phần lãnh đạo và nhân viên các bộ gồm các chức quan sau Thượng Thư, Tham Tri, Thị Lang, Lang Trung, Viện Ngoại Lang, Chủ Sự, Tư Vụ. II. Cải cách chức năng, nhiệm vụ của Lục bộ Để xem xét một cách kĩ nhất về cải cách của vua Minh Mạng thì chúng ta cần xem xét và so sánh với Lục bộ thời vua Lê Thánh Tông. Lục bộ thời vua Minh Mạng Lục bộ thời vua Lê Thánh Tông Bộ lại + Gồm 5 Ty Văn Tuyển, Trung Tự, Phong Điển, Lại Ân, Lại Trực + Chức năng Giúp việc tuyển bổ, thuyên chuyển quan văn, phong tước, tập ấn, phong tặng, giám sát khảo sát niên khoá… + Gồm 2 cơ quan - 1 cơ quan chuyên trách - 1 cơ quan thường trực như cơ quan Lại bộ tư vụ sảnh. Bộ Hộ + Gồm 7 Ty Kinh Trực, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Thưởng Lộc + Chức năng Cân bằng giá trong việc phát ra và thu vào, điều hoà nguồn của cải nhà nước, phụ trách kho tang lưu thông, đinh tiền thuế kháo, tiền tệ… + Gồm 2 cơ quan chuyên trách Đô tri thanh lại ty, Bản Tịch Thanh Lại Ty và 1 cơ quan thường trực Hộ bộ tư vụ sảnh + Chức năng Quản lý ruộng đất, tài chính, tô thuế, kho tang, hộ khẩu, lương của quan và quân trong cả nước. Bộ Lễ + Gồm Ty Nghi Văn, Ty Nhân Tự, Ty Thừ Ứng, Xứ Lễ Trực + Chức năng Tiếp nhận các tấu sớ, công văn, lễ nghi lễ Gia, lễ Quân, tế tự, phong tặng các thần, cân nhắc hiền tài, ngoại giao + Gồm Nghi Lễ Thành Lại Ty, Lễ Bộ Tư vụ sảnh + Chức năng Phụ trách lễ nghi, tế tư, tiệc tùng, thi cử và học hành, quản lý lễ nghi của quan lại…. Bộ Binh + Gồm Ty Võ Tuyển, Ty Kinh Kỳ, Ty Trực Tỉnh, Ty Khảo Công, Xứ Binh Trực. + Chức năng Bổ nhiệm tuyển dụng các chức võ quan, khảo duyệt khí giới, lương thực để giúp việc chính trị trong nước, tuyển lính…. + Gồm Vũ Khổ Thanh Lại Ty, Qua Vụ Thanh Lại Ty, Binh Bộ Tư Vụ Sảnh. + Chức năng Tuyển lính, huấn luyện quân đội, quân trang vũ khí, trông coi việc trấn giữ biên ải và ứng phó với tình hình khẩn cấp. Bộ Hình + Gồm Ty Kinh Trực Kỳ, Ty Nam Hiến, Ty Bắc Hiến, Xứ Hình Trực. + Chức năng Thảo luận về pháp luật, xét xử tội nặng, phúc thẩm các nghi án, xếp đặt các lao ngục, chế độ tù nhân… + Gồm 4 cơ quan chuyên trách Thanh Hình, Thân Hình, Minh Hình và Thượng Hình Thanh Lại Ty và 1 cơ quan thường trực là Hình Bộ Tư Vụ Sảnh. + Chức năng Thi hành Luật lệnh, hình phạt xét xử, tù ngục.. Bộ Công + Gồm Ty Quy Chế, Ty Danh Thiện, Ty Công Ấn, Xứ Công Trực. + Chức năng Coi giữ thợ thuyền xây dựng thành trì lăng tẩm, đóng tàu thuyền, sửa chữa cung điện, nhà cửa, kho tàng. + Gồm Danh Thừa Thanh Lại Ty, Công Trình Thanh Lại Ty. Không có cơ quan thường trực. + Chức năng Sửa chữa, xây dựng cung điện, đường xá, cầu cống, thành trì, quản lý công xưởng và thợ thuyền trong cả nước. Qua sự so sánh trên, có thể thấy những cải cách của Minh Mạng trong cơ cấu các bộ, chức năng, nhiệm vụ Lục bộ là Không phân thành cơ quan chuyên trách và cơ quan thường trực như triều Lê Thánh Tông mà chia thành nhiều Ty với số lượng lớn. Đó là do dưới triều Minh Mạng đất nước Việt Nam đã phát triển, tiến sâu hơn vào phía Nam, dài và rộng hơn dưới triều vua Lê Thánh Tông và các triều vua khác. Như vậy, công việc của các bộ thời kỳ này cũng nhiều và phức tạp hơn rất nhiều so với các triều đại trước. Bởi vậy, ông đã phân bộ thành nhiều Ty và quy định cho tưng Ty công việc cụ thể, rõ rang và để hạn chế quyền lực tập trung vào tay một số như Thượng Ty hạn chế việc lạm dụng quyền lực và các Ty không bị lấn sang quyền hạn của nhau hay bỏ bê công việc hoặc trong việc xác định ai làm đúng việc và chưa hoàn thành công việc. III. Nhận xét về những cải cách về Lục bộ của vua Minh Mạng Chúng ta đều đánh giá cao cuộc cải cách của vua Minh Mạng, ông đã học tập kinh nghiệm xây dựng Lục bộ dưới thời vua Lê Thánh Tông và triều đại nhà Minh, Thanh trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Đồng thời có sự thay đổi nhằm đề cao vai trò của các bộ phù hợp với yêu cầu của một vùng lãnh thổ rộng lớn và với số dân cư đông đúc, phức tạp. Vì vậy, ở thời kỳ Minh Mạng là lúc triều Nguyễn phát triển mạnh nhất. Những cải cách về Lục bộ của ông được lịch sử đánh giá cao, bộ máy nhà nước như vậy có thể đảm bảo nguyên tắc tập trung quyền lực tối thượng vào tay vua và tăng cường tính thống nhất của một quốc gia với một lãnh thổ từ trước tới nay chưa từng có. Những giá trị tư tưởng của Minh Mạng không những vì cải cách Lục bộ nói riêng và cải cách hành chính nói chung mà còn củng cố nước Việt Nam ổn định và phát triển để có thể đối mặt trước nguy cơ xâm lược của phương Tây và bành trướng lãnh thổ của nước láng giềng Phù Nam. Những cải cách về Lục bộ nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung của Minh Mạng cũng có một số hạn chế nhất định, làm cho đất nước không phát triển được như mong muốn và đủ sức mạnh chống lại các vấn đề bên ngoài, hạn chế đi một phần sức mạnh của nhân dân, chưa tập chung được tinh thần đoàn kết trong nhân dân C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Bằng trí tuệ siêu việt cùng với những nỗ lực không mệt mỏi, vua Minh Mạng đã ghi vào lịch sử Việt Nam dấu ấn về cải cách về hành chính đặc biệt là cải cách Lục bộ. Ông đã kế thừa thành tựu của các triều đại trước để thiết lập một bộ máy nhà nước mới mang tính sáng tạo, trong đó có Lục bộ mà đến nay chúng ta vẫn còn học hỏi Bộ Quốc phòng tương đương với Bộ Binh, Bộ Tài chính về chức năng gần giống Bộ Hộ…. Khi đánh giá về những cải cách của vua Minh Mạng, có ý kiến ngợi khen khâm phục và cũng có ý kiến chê bao khiển trách. Ông đã gần như triệt tiêu mọi tư tưởng cải cách tiến bộ của triều Tây Sơn vua Quang Trung. Nhưng thực sự chúng ta nên có một cái nhìn khái quát lịch sử về cuộc đời và cải cách của Minh Mạng, bởi vậy, nếu xét trên nhiều khía cạnh, Minh Mạng xứng đáng là một vị minh quân hết lòng cho công cuộc xây dựng đất nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I. GIÁO TRÌNH 1. Trường Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam – Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội – 2007. 2. Khoa Luật đại học Quốc Gia Hà Nội – Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam – Nxb. Đại học Quốc Gia – 2008 II. SÁCH THAM KHẢO 1. Nguyễn Minh Tường – Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng – Nxb. Khoa học xã hội - 1994 2. Đại Việt sử ký toàn thư - tập 5, 6, 7, 8 – Nxb. Khoa học xã hội – 1993 3. Minh Mạng chính yếu - tập 1, 2, 3 – Nam Hà ấn quán Sài Gòn – 1975. Vào thời phong kiến, Hoàng đế thường được xem như "thiên tử", ngồi ở vị trí cửu ngũ chí tôn. Vì vậy, phàm là việc liên quan tới nhà vua thì sẽ nghiễm nhiên được xem trọng, việc thị tẩm để duy trì huyết thống hoàng gia cũng là một trong số nhưng ít ai biết rằng, quá trình lâm hạnh phi tần của nhà vua thực chất cũng phải tuân thủ không ít nguyên tắc. Điều đáng nói nằm ở chỗ, người chịu thiệt vì các quy định ngặt nghèo này không chỉ có phi tử mà có đôi khi là cả Hoàng có chuyện ai cũng dễ dàng lên được long sàng của Hoàng đếKhác với trên phim ảnh, những đối tượng được Hoàng đế sủng hạnh rất có giới hạn. Bởi thị tẩm là việc liên quan tới vấn đề duy trì huyết thống cho hoàng tộc. Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Mặc dù mỗi khi nhắc tới hậu cung của đế vương, nhiều người thường vô tình mường tượng đó là nơi có hàng ngàn mỹ nhân, giai lệ, còn nhà vua thì sẽ được tùy ý lựa chọn người mình thích. Thế nhưng trên thực tế lại không phải như người được phép hầu hạ chuyện chăn gối của đế vương thường chỉ giới hạn trong ba đối tượng Thứ nhất là phi tần đã được sắc phong, thứ hai là cung nữ, thứ ba là nam sủng nếu có.Trong một số tình huống đặc biệt, một số quan viên trong triều hoặc các chư hầu sẽ chủ động dâng tặng mỹ nữ cho Hoàng vậy, những trường hợp này vẫn chỉ là thiểu số, hơn nữa rất ít khi có tiền lệ nhà vua tùy ý sủng hạnh những đối tượng không rõ danh tính hay không có xuất thân rõ ràng, trong sạch. Bởi việc thị tẩm liên quan trực tiếp đến huyết thống hoàng tộc và danh dự của bậc đế tần không được phép mặc y phục khi tới thị tẩmĐể đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Thiên tử, các phi tần được triệu vào thị tẩm sẽ không được phép mặc y phục. Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Trong nhiều tác phẩm phim cổ trang, người xem thường thấy cảnh các phi tần được triệu đi thị tẩm sẽ không mặc y phục mà được cuộn vào chăn và đưa tới tẩm cung của Hoàng tắc này thực chất đã tồn tại từ thời nhà Nam Minh và tới thời nhà Thanh thì chính thức trở thành một bước buộc phải tuân thủ trong quá trình thị phi tần không được mặc y phục khi đến thị tẩm chủ yếu để giữ an toàn cho Hoàng đế. Bởi sự thực là lịch sử Trung Hoa đã từng ghi nhận không ít trường hợp hậu phi, cung nữ tìm cách ám sát nhà lệ này cũng được xem là cần thiết khi mà vào thời Minh – Thanh, tình hình chính trị trong nước có nhiều bất ổn, đặc biệt là sự xuất hiện của hàng loạt bản án văn tự án có liên quan tới chữ nghĩa vào đầu thời nhà Thanh khiến hàng ngàn người phải chết một cách oan một hành động tùy tiện cũng có thể thất sủng, thậm chí rơi đầuChiếu theo quy trình thị tẩm bốn bước vào thời nhà Thanh, phi tần sau khi được đưa tới tẩm cung của Hoàng đế cũng không thể bước lên long sàng hoặc vén chăn một cách tùy đó, Hoàng đế sẽ lên nằm trên giường, nhưng không đắp kín chăn mà để lộ ra một phần bắp chân của tử khi được đưa vào hầu hạ sẽ bước lên phía cuối giường, sau đó từ từ chui vào trong chăn từ phía chân mà Hoàng thượng để khi hầu hạ xong, vị phi tần ấy lại phải từ từ bò xuống cuối giường và chui ra từ phía góc chăn ban ý kiến cho rằng, quy tắc thị tẩm cẩn trọng đến từng chi tiết này mặc dù đảm bảo sự an toàn và uy nghi của Thiên tử, nhưng cũng thể hiện rõ thái độ "trọng nam khinh nữ" đã thâm căn cố đế vào quan niệm của người Trung Hoa đế cũng có lúc... không được "tận hứng"Những tưởng Hoàng đế là người có thể tùy ý hưởng dụng mỹ nữ, thế nhưng ít ai biết rằng họ cũng có những lúc "muốn mà không được". Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Ngay cả khi có trong tay hậu cung với vô số mỹ nữ, các Hoàng đế cũng đôi khi không được làm chủ chuyện vợ chồng của chính biệt là vào thời nhà Thanh, giờ giấc lâm hạnh đã được cơ quan chuyên quản lý việc thị tẩm là Kính Sự phòng quy định rất rõ đó, Hoàng đế và hậu phi chỉ được thị tẩm trong khoảng nửa giờ, tương đương khoảng 30 phút. Khi đã tới giờ, thái giám Kính Sự phòng sẽ lên tiếng nhắc nhở nhà trường hợp Hoàng đế còn muốn tiếp tục, Kính Sự phòng sẽ gia hạn thời gian bằng cách nhắc nhở thêm lần thứ hai, lần thứ ba. Tuy nhiên khi đã tới lần thứ ba, dù nhà vua vẫn chưa tận hứng thì các thái giám vẫn buộc phải đưa phi tần về cung. Đây là quy định thuộc vào tổ chế đã được quy định từ khi mới lập quốc để tránh Thiên tử say mê tửu sắc mà bỏ bê chuyện triều có khái niệm riêng tư tuyệt đối trong chuyện chăn gốiMặc dù là vợ chồng trên danh nghĩa, nhưng các phi tần không mấy ai được phép qua đêm ở tẩm cung của Hoàng nữa, quá trình lâm hạnh của nhà vua cũng không có sự riêng tư tuyệt đối bởi luôn có các thái giám, cung nữ túc trực bên ngoài chờ mệnh biệt là vào thời nhà Thanh, người của Kính Sự phòng thậm chí còn phải theo dõi sát sao việc thị tẩm của nhà vua để ghi lại những số liệu cần phận của tần phi được quyết định bằng một câu hỏi từ thái giámKhông những phải tuân thủ các thủ tục rườm rà về quy củ, việc phi tần có được phép mang thai hay không cũng phải phụ thuộc vào quyết định của người khác.Ảnh minh họa Nguồn Baidu.Ngày nay, mang thai và làm mẹ được xem là thiên chức của người phụ nữ. Tuy nhiên vào thời phong kiến, các phi tần có được mang long thai hay không còn phải phụ thuộc vào ý muốn của nhà khi kết thúc quá trình thị tẩm, thái giám Tổng quản sẽ hỏi Hoàng đế một câu đầy ngụ ý "Lưu hay không lưu?"Nếu Thiên tử trả lời là "lưu" thì đồng nghĩa với việc phi tần này được phép mang long thai. Còn trong trường hợp câu trả lời là ngược lại thì thái giám buộc phải làm mọi cách để ép ra "long tinh" từ trong cơ thể của người phương pháp tránh thai thời cổ đại vốn được xem là thiếu khoa học và gây hại với cơ thể phụ nữ. Trong cung đình, thủ thuật hay dùng là ấn huyệt để khiến "long tinh" đi nhưng nếu đã thực hiện thủ thuật này mà vị phi tần kia vẫn mang thai ngoài ý muốn thì các thái giám sẽ tìm mọi cách để khiến người đó sảy thai, bao gồm cả việc cho uống độc dược hoặc nhiều hình thức khác man rợn những luật lệ ngặt nghèo trên đây, không khó để nhận thấy quá trình lâm hạnh của vua chúa và phi tần thời xưa không hề đơn giản mà phải đảm bảo hoàn thành rất nhiều thủ tục. Thế nhưng dù vậy, canh bạc đổi đời mang tên "thị tẩm" vẫn trở thành mục tiêu tranh đoạt của vô số cuộc chiến đẫm máu chốn thâm cung.*Tổng hợp Tên truyện Minh Vương phu giả Phân Phân Hòa QuangThể loại Nguyên sang, ngôn tình, cổ đại, huyền huyền, ngọt sủng, cung đình hầu tước, linh dị, chương Oreo Vị NhoVăn ánNgọc Ngưng là tiểu thư con vợ lẽ nhị phòng Nam Dương hầu phủ. Mẫu thân yếu đuối, phụ thân phong vách là thế tử Trần Vương luôn coi nàng là cá trên thớt, thường xuyên nói muốn nàng làm quý tỷ ghen ghét Ngọc Ngưng, ghen ghét đến nổi điên, vụиɠ ŧяộʍ cho nha hoàn đẩy Ngọc Ngưng xuống Ngưng ý thức mê man, ở dưới dáy nước mơ hồ nhìn thấy một khối thi thể nam nhân. Người nọ đột nhiên mở mắt, khuân mặt tuấn mỹ lãnh lẽo hiện lên ý bị một cỗ lực mạnh mẽ đẩy lên bờ, vào ban đêm, Ngọc Ngưng mơ một giấc mộng nàng nhìn thấy một nam nhân, người chàng lạnh băng đến thấu xương, chàng giơ tay nhéo cằm nàng “Ân cứu mạng, nàng muốn hoàn lại thế nào?”Một đêm hoang đường, ngày kế tiếp Ngọc Ngưng tỉnh lại, không nhìn thấy nam nhân đó đâu chỉ nghe thấy thanh âm “Ngưng nhi, ta và nàng đã trở thành phu thê, nàng không được có ý với nam nhân khác, ta sẽ còn lại đến”.Ngọc Ngưng sợ nam nhân này, sợ đến muốn chết. Nàng lại càng sợ mình sẽ mang một cái quỷ này, thế tử Trần Vương có ý xấu muốn nhìn trộm nàng, mắt liền bị mù, nổi điên mà chết. Mẹ kế muốn đem nàng gả cho ngoại tôn không nên thân, kết quả hắn chết bất đắc kỳ tử trong đêm, mẹ kế hàng đêm đều gặp quỷ. Đích tỷ cùng cha khác nương muốn tát Ngọc Ngưng, kết quả trượt chân, ngã vào bờ tường, vỡ đầu chảy Ngưng bất giác phát hiện ra nam nhân này thật tốt. Tuy rằng người chàng lạnh băng, chỉ có tâm là nóng. Buổi tối, khi nam nhân nằm cạnh bên nàng đã ngủ say, nàng liền hôn trộm lên đôi môi chàng “Phu quân hảo”.Nam nhân đột nhiên mở mắt “Nơi nào hảo?”Gương mặt Ngọc Ngưng nổi dần sắc đỏ “nơi nào cũng đều hảo...”Chỉ Minh Vương mới có thể khi dễ tiểu kiều thê X mặt lạnh Minh Vương. Vua Minh Mạng lên ngôi đúng ngày mùng Một Tết. Ngay sau khi lên ngôi vua ban chiếu miễn thuế cho dân, thưởng cho tôn thất và các quan. Mùng 2 Tết, làm lễ cúng vua cha, mùng 3, yết các miếu thờ tổ tiên. Lăng vua Minh Mạng. Minh Mạng tên thật là Nguyễn Phúc Đảm 1791-1841, là vị vua thứ hai của triều Nguyễn. Ông là vị vua làm việc rất chăm chỉ, Đại Nam dưới thời trị vì của ông là quốc gia hùng mạnh bậc nhất trong khu vực, khiến ngoại bang nể sợ. Vua Minh Mạng lên ngôi ngày mùng Một Tết năm Canh Thìn 1820. Sử cũ ghi lại tương đối đầy đủ những hoạt động của nhà vua trong ngày Tết. Ngay sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng ban chiếu gồm 16 điều đặc ân như miễn thuế cho nhân dân, ban thưởng cho tôn thất và các quan. Ngày mùng Hai Tết, làm lễ cúng vua cha, ngày mùng 3, vua yết các miếu thờ tổ tiên rồi sau đó, ban tặng bạc và thưởng cơm rượu cho các bậc kỳ lão trong kinh kỳ. Trong năm ở ngôi đầu tiên, vua Minh Mạng vẫn đang trong thời gian để tang vua cha là vua Gia Long. Sau lễ giỗ lần đầu lễ Tiểu tường vua Gia Long vào ngày 19 tháng Chạp, vua Minh Mạng bàn với quần thần về nghi lễ Nguyên đán. Lễ Nguyên đán Quần thần tâu rằng sau lễ Tiểu tường, nhà vua có thể chủ trì lễ tế được rồi, và đề xuất đúng ngày Chính đán mùng Một Tết, nhà vua nên thân hành yết Thái miếu nơi thờ phụng các vị chúa Nguyễn. Các quan tham gia làm bồi tế, sau đó nhà vua về ngự điện ở Cần Chính, đổi mặc áo thường, các quan vẫn mặc triều phục, đợi ở sân điện Thái Hoà để vào triều kiến. Còn ngày thường thì nhà vua vẫn mặc áo trắng ngự ở Tiện điện mà nghe chính sự để trọn số tháng cư tang. Nhà vua nghe theo lời bàn đó. Do đó, vào ngày mùng Một Tết năm sau, tức năm Minh Mạng thứ 2 1821, nhà vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, tiến hành tế Thái miếu, sau đó ban lệnh miễn lễ triều hạ cho các quan. Sau đó vua đổi áo thường, ngự ở điện Cần Chính, các quan vào chiêm bái. Nhà vua ban cho các quan bạc thay cho việc đãi yến theo thứ bậc khác nhau. Ngày mùng 2, nhà vua dâng lễ lớn ở điện Hoàng Nhân, nơi thờ vua Gia Long. Đến ngày mùng 7 thì chính thức khai ấn. Ngày mùng 10, nhà vua cho tiến hành duyệt binh. Nhà vua mặc nhung phục ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt. Lệ duyệt binh bắt đầu từ đấy. Cũng từ năm này, vua Minh Mạng cho thủy quân diễn tập chèo thuyền và lấy làm lệ thường niên. Năm Minh Mạng thứ 4, được mùa, khi khai bút đầu năm, nhà vua đã tự viết 6 chữ lớn “Phúc Thọ Thượng Thọ Hữu Niên” vào 4 bức giấy rồng, đưa bảo bầy tôi rằng “Năm mới trẫm khai bút viết sáu chữ ấy, hai chữ “Thượng Thọ” là dâng cung Từ Thọ nơi ở của Thái hậu, để cầu phúc lớn, hai chữ “Hữu Niên” để cầu cho dân ta năm nay được mùa, hai chữ “Phúc Thọ” để ở bên hữu chỗ ngồi để theo ý nghĩa nhà vua thu phúc mà ban cho dân”. Vua Minh Mạng cũng thường xuyên làm thơ khai bút đầu xuân. Thường nhà vua ngự ở điện Văn Minh, triệu hoàng thân và văn võ đại thần cho ngồi, ban nước chè uống, bình thơ vua làm. Trong số rất nhiều bài thơ xuân của nhà vua, bài “Ngày Tết Nguyên đán khai bút”, có câu “Canh diệt tứ thời nhưng phục thuỷ, Ưu cần nhất niệm hựu tòng đầu…”. Bốn mùa thay đổi quay vòng mới, Một dạ chăm lo lại bắt đầu. Giảm thuế, ban thưởng trong chiếu xuân Trong thời gian trị vì, nhiều lần trong chiếu đầu xuân, vua Minh Mạng giảm thuế cho nhân dân, như năm đầu lên ngôi, năm thứ 5, thứ 6, thứ 10… Mức thuế được giảm từ 1 phần 10 đến 4 phần 10, tùy vào tình hình mùa màng của từng địa phương. Không chỉ ban thưởng cho các quan trong kinh, ngày Tết, vua Minh Mạng cũng nhớ đến các quan ở xa. Năm Minh Mạng thứ 6, nhà vua bảo thị thần rằng “Sự mừng xuân ban khắp cả bầy tôi mà thành thần Gia Định vì giữ ngoài không được dự yến ở triều đình, trẫm rất lấy làm áy náy”. Vua bèn sai thị vệ đem phẩm vật ban cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt, các văn võ thuộc thành như Trương Tiến Bửu, Nguyễn Văn Thuỵ, Nguyễn Xuân Thục, Trần Nhật Vĩnh đều được thưởng chỉ thưởng cho các quan, vua Minh Mạng cũng ban cho các giám sinh Quốc tử giám mỗi người 10 quan tiền. Quan bộ Hộ là Nguyễn Hữu Thận nói thưởng thế là quá hậu. Vua trả lời rằng “Cho con hát đàn bà hầu hạ thì không nên hậu, chứ học trò của báu của nhà nước, ngày nay nuôi để ngày khác dùng, há chẳng nên hậu hay sao ?”. Ngày đầu năm, nhà vua cũng ban thường cho những người dân sống thọ, như ân chiếu ban hành năm Minh Mạng thứ 11, quy định các kỳ lão trên 100 tuổi ban thưởng 3 lạng bạc, trên 90 tuổi thưởng 2 lạng bạc, trên 80 tuổi thưởng 1 lạng bạc. Đầu xuân, nhà vua thường xuất hành du xuân ra ngoài thành, như năm thứ 6, ngự ra Đông Giao, khi đi về lệnh giảm thuế thân 1 phần 10 cho dân các xã đi qua, lại thưởng thêm cho dân xã 500 quan tiền. Năm sau, vua xuất hành đi thăm về phía đông Kinh thành, cũng thưởng cho dân ở dọc đường quan tiền. Năm Minh Mạng thứ 8 1827, nhân lễ Lục tuần đại khánh của Hoàng thái hậu, đầu năm nhà vua ban ân điển gồm 13 điều, như miễn hết tiền thuế thân, tiền đầu quan, tiền điệu, tiền cửa đình cho cả nước, giảm tiền thóc gạo thuế lệ về điền thổ tới 5 phần 10… Từ năm Minh Mạng thứ 10, triều đình bắt đầu làm lễ Nghênh xuân và Tiến xuân, tức các lễ đón xuân và tiến thần Câu mang, với con trâu đất, để cầu nguyện cho thời tiết được lành, mùa màng được thuận. Lễ tế cờ Năm này, vua Minh Mạng cũng cho đổi lễ Đầu xuân ra quân làm lễ tế cờ. Theo đó, ngày 11 tháng Giêng, nhà vua đặt triều nghi ở điện Cần Chánh để quan Khâm mạng bái mạng. Đến kỳ tế cờ, trước một ngày Hữu ty làm đàn đặt án ở ngoài quách phía nam Kinh thành, án giữa đặt một bài vị “Kỳ đạo chi thân”, án bên trái đặt ba bài vị “Kỳ đầu đại tướng”, “Lục đạo đại tướng”, “Ngũ phương kỳ thần”, án bên phải đặt 4 bài vị “Chủ tể chiến thuyền chính thân”, “Kim cổ dác nạo pháo chi thần”, “Cung thỉ phi thương phi thạch chi thần”, “Trận tiền trận hậu thần kỳ”, đều hướng về phía nam. Trước án thờ đều bày lễ tam sinh cúng các loại gia súc trâu, dê, lợn, hai bên có 300 biền binh mang súng, 10 con voi lễ, 3 cố đại bác. Ngày tế cờ, quan Khâm mạng làm lễ, sau đó bắn 3 phát đại bác, rồi trở về phục mạng. Theo lệ ban yến và thưởng cho các hoàng tử thân công và các quan văn võ, thì các quan từ cấp Chánh ngũ phẩm trở lên mới được dự tiệc. Năm 1828, do là dịp Tứ tuần đại khánh nhà vua tròn 40 tuổi, nên vua cho đặc cách cho các quan văn từ Chánh lục phẩm trở lên, võ giai thực thụ Suất đội đều được dự. Đến năm Minh Mạng thứ 17 1836, lại ban quy định là vào lễ tết Nguyên đán trong cung đình từ hoàng tử tước công và quan viên văn võ đều cho ăn yến tiệc, thưởng đồ vật có thứ bậc. Ngoài việc giữ nghiêm lễ tế các vị tổ tiên, vua Minh Mạng cũng yêu cầu tế lễ chu đáo các đền thờ các vua thời trước, như trong dụ ban hành cuối năm Minh Mạng thứ 7 1826 “Những thành trấn khác có đền miếu thờ tự đế vương, văn thánh các đời mỗi nơi lập một đàn tế tự và phối tế với các miếu thờ thần trong điển tại trị sở”. Theo LÊ TIÊN LONG / TRI THỨC TRỰC TUYẾN Tags Vua chúa Việt Nam, Nhà Nguyễn, Tết Nguyên đán, Minh Mạng

chuyen phong the cua vua minh mang